Văn học hiện thực phê phán 1930-1945: Bối cảnh, đặc trưng và các tác giả tiêu biểu

Văn học hiện thực phê phán 1930-1945

Văn học hiện thực phê phán 1930-1945 là trào lưu văn học công khai hợp pháp tại Việt Nam, tập trung phơi bày bản chất tàn bạo của xã hội thực dân nửa phong kiến và bênh vực những kiếp người lầm than dưới đáy xã hội. Trào lưu này phát triển rực rỡ trong vòng 15 năm với hàng trăm tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự có giá trị nghệ thuật xuất sắc, đặt nền móng vững chắc cho văn xuôi hiện đại Việt Nam. Bài viết dưới đây phân tích chi tiết bối cảnh ra đời, các giai đoạn phát triển, đặc trưng nghệ thuật, hình tượng người nông dân và những cây bút kiệt xuất của dòng văn học này.

Văn học hiện thực phê phán 1930-1945 là gì và hình thành trong bối cảnh nào?

Văn học hiện thực phê phán 1930-1945 là khuynh hướng sáng tác lấy hiện thực đời sống xã hội đương thời làm đối tượng phản ánh trực tiếp, qua đó lên án các thế lực áp bức và bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc với tầng lớp lao động nghèo khổ. Trào lưu này ra đời trực tiếp từ những biến động dữ dội về kinh tế, xã hội và văn hóa tại Việt Nam đầu thế kỷ 20.

Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp cùng tác động từ cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) đã đẩy hàng triệu người dân Việt Nam vào cảnh phá sản và đói nghèo. Sự phân hóa giàu nghèo diễn ra gay gắt tại cả nông thôn lẫn thành thị, tạo nên những mâu thuẫn xã hội không thể điều hòa giữa một bên là thực dân, quan lại, địa chủ, tư sản mại bản và một bên là người nông dân, công nhân, tiểu tư sản nghèo.

Cùng thời điểm đó, chữ Quốc ngữ đã phổ biến rộng rãi, nghề in và báo chí phát triển mạnh tại các đô thị lớn như Hà Nội, Sài Gòn và Huế. Đội ngũ trí thức Tây học tiếp thu ảnh hưởng từ các nhà văn hiện thực lớn của Pháp và Nga như Honoré de Balzac, Guy de Maupassant, Fyodor Dostoevsky hay Maxim Gorky. Nếu các thi sĩ thuộc phong trào Thơ mới 1930-1945 chọn cách giải thoát vào thế giới mộng tưởng và cái tôi trữ tình cá nhân thì các nhà văn hiện thực lại nhìn thẳng vào sự thật tàn khốc của đời sống để cầm bút chiến đấu.

Văn học hiện thực phê phán là gì
Văn học hiện thực phê phán là gì

Quá trình phát triển của trào lưu văn học hiện thực qua 3 giai đoạn

Trào lưu văn học hiện thực phê phán Việt Nam vận động qua 3 giai đoạn lịch sử rõ rệt từ năm 1930 đến năm 1945. Sự phát triển của các tác phẩm gắn liền với những thăng trầm của tình hình chính trị và chế độ kiểm duyệt báo chí đương thời.

  • Giai đoạn 1930 – 1935: Khuynh hướng hiện thực bắt đầu định hình qua các thể loại phóng sự và truyện ngắn trào phúng. Các tác phẩm tiêu biểu trong chặng đường mở đầu này gồm tập phóng sự Tôi kéo xe (1932) của Tam Lang, tiểu thuyết Kép Tư Bền (1935) của Nguyễn Công Hoan và phóng sự Cạm bẫy người (1933) của Vũ Trọng Phụng.
  • Giai đoạn 1936 – 1939: Trào lưu bước vào thời kỳ phát triển đỉnh cao nhờ làn sóng dân chủ của Mặt trận Nhân dân Pháp giúp chế độ kiểm duyệt báo chí tại Đông Dương được nới lỏng. Chỉ trong 4 năm, văn đàn chứng kiến sự ra đời liên tiếp của những kiệt tác văn xuôi như Số đỏ, Giông tố (1936) của Vũ Trọng Phụng, Tắt đèn (1937) của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng (1938) của Nguyễn Công Hoan và Bỉ vỏ (1938) của Nguyên Hồng.
  • Giai đoạn 1940 – 1945: Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương câu kết với thực dân Pháp thiết lập chế độ kiểm duyệt gắt gao và đàn áp khốc liệt. Văn học hiện thực chuyển hướng từ phê phán các đại cảnh xã hội rộng lớn sang đào sâu bi kịch nội tâm và sự giằng xé nhân cách của con người với đỉnh cao là các sáng tác của Nam Cao như Chí Phèo (1941), Lão Hạc (1943) và Sống mòn (1944).
Quá trình phát triển của trào lưu văn học hiện thực
Quá trình phát triển của trào lưu văn học hiện thực

Đặc trưng văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930-1945

Đặc trưng văn học hiện thực phê phán thể hiện rõ nét nhất ở tính chân thực lịch sử, tinh thần phơi bày bất công xã hội và nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Các nhà văn đã tạo nên một cuộc cách mạng toàn diện cho diện mạo văn xuôi quốc ngữ.

Tinh thần phê phán triệt để là linh hồn của toàn bộ trào lưu này. Ngòi bút của các tác giả tập trung lột trần bản chất thối nát, đạo đức giả của giai cấp thống trị gồm quan lại phong kiến, địa chủ cường hào và tầng lớp tư sản học đòi văn minh rởm. Những khẩu hiệu mỹ miều như “khai hóa văn minh”, “âu hóa”, “tiết hạnh khả phong” đều bị vạch trần thành những trò hề lố bịch trên trang giấy.

Nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình đạt tới trình độ bậc thầy. Nhân vật không còn được chia theo lối thiện – ác đơn tuyến của văn học cổ điển mà là sản phẩm tất yếu của môi trường xã hội. Nhiều tên nhân vật đã bước ra khỏi trang sách để trở thành danh từ chung chỉ một hạng người trong đời thực như Xuân Tóc Đỏ, Nghị Hách, Nghị Quế, Bá Kiến, Chí Phèo hay chị Dậu.

Đặc trưng của văn học hiện thực phê phán 1930-1945
Đặc trưng của văn học hiện thực phê phán 1930-1945

Ngôn ngữ và thể loại văn học mang đậm hơi thở cuộc sống hàng ngày. Các nhà văn đưa lời ăn tiếng nói mộc mạc của người dân lao động, tiếng chửi rủa ở xó chợ, ngôn ngữ báo chí và cả khẩu ngữ thành thị vào tác phẩm một cách tự nhiên. Hệ thống thể loại phát triển đa dạng với 3 mũi nhọn chính là phóng sự điều tra, truyện ngắn châm biếm và tiểu thuyết xã hội dài hơi.

Số phận người nông dân và dân nghèo trong văn học hiện thực

Số phận người nông dân trong văn học hiện thực là đề tài trung tâm lấy đi nhiều nước mắt và tâm huyết nhất của các cây bút đương thời. Người lao động hiện lên trên trang viết không còn là những bóng mờ phụ họa mà trở thành nhân vật chính gánh chịu hai tầng bi kịch lớn: sự bần cùng hóa về vật chất và sự tha hóa về nhân tính.

Bi kịch bần cùng hóa vì sưu cao thuế nặng và nạn cho vay nặng lãi

Người nông dân Việt Nam trước năm 1945 bị đẩy vào bước đường cùng bởi hệ thống thuế khóa vô lý của thực dân và sự bóc lột tàn nhẫn của địa chủ cường hào. Để có tiền nộp một suất sưu cho chồng, chị Dậu trong Tắt đèn phải bán cả đàn chó mới mở mắt, bán gánh khoai và đau đớn nhất là bán đứa con gái đầu lòng mới 7 tuổi là cái Tí cho nhà Nghị Quế.

Tại các vùng quê khác, những thủ đoạn cướp ruộng đất tinh vi cũng diễn ra hàng ngày. Anh Pha trong tiểu thuyết Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan dù làm lụng quần quật quanh năm vẫn bị Nghị Lại dùng mưu mô cho vay nặng lãi để chiếm đoạt sạch mảnh đất cắm dùi duy nhất. Những người dân nghèo thành thị hay phu mỏ như nhân vật Tám Bính trong Bỉ vỏ, người phu xe trong Tôi kéo xe cũng rơi vào vòng xoáy nợ nần và đói rách không lối thoát.

Bi kịch bần cùng hóa vì sưu cao thuế nặng
Bi kịch bần cùng hóa vì sưu cao thuế nặng

Bi kịch tha hóa nhân hình lẫn nhân tính dưới đáy xã hội

Nỗi đau lớn nhất của con người trong văn học hiện thực không dừng lại ở cái đói hay cái chết thể xác mà nằm ở sự hủy hoại nhân phẩm. Khi bị tước đoạt mọi tư liệu sinh sống, nhiều người lương thiện đã bị xã hội thực dân phong kiến đẩy vào con đường lưu manh hóa.

Chí Phèo của Nam Cao vốn là một anh canh điền hiền lành, giàu lòng tự trọng nhưng sau những năm ngồi tù oan của chế độ thực dân đã trở về làng Vũ Đại với bộ mặt đầy vết mảnh chai và tâm hồn quỷ dữ. Tám Bính của Nguyên Hồng từ một cô gái quê trong trắng, nhẹ dạ đã bị hoàn cảnh xô đẩy trở thành một “bỉ vỏ” (nữ tặc ăn cắp chuyên nghiệp) nơi phố cảng Hải Phòng. Ngòi bút hiện thực không kết tội những con người lầm lạc ấy mà cất lên tiếng kêu cứu khẩn thiết nhằm đòi lại quyền làm người lương thiện cho họ.

Bi kịch tha hóa nhân hình lẫn nhân tính
Bi kịch tha hóa nhân hình lẫn nhân tính

Các gương mặt nhà văn hiện thực phê phán xuất sắc nhất

Trào lưu hiện thực phê phán hội tụ hàng chục cây bút tài năng, trong đó nổi bật nhất là bộ tứ Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao. Mỗi tác giả sở hữu một phong cách nghệ thuật độc đáo, góp phần hoàn thiện bức tranh tổng thể về xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.

Nguyễn Công Hoan và nghệ thuật truyện ngắn trào phúng

Nguyễn Công Hoan (1903 – 1977) là người mở đường và là bậc thầy của thể loại truyện ngắn trào phúng trong văn học Việt Nam hiện đại với gia tài hơn 200 truyện ngắn và gần 30 tiểu thuyết. Ông quan niệm cuộc đời là một sân khấu hài kịch lớn mà ở đó sự giả dối của kẻ giàu sang luôn được che đậy bằng vẻ ngoài đạo mạo.

Thế mạnh đặc sắc trong ngòi bút Nguyễn Công Hoan là khả năng phát hiện những mâu thuẫn trái tự nhiên, dựng lên các tình huống truyện bất ngờ và kết thúc bằng những cú lật ngược tình thế tạo tiếng cười chua chát. Các truyện ngắn xuất sắc của ông như Kép Tư Bền, Đồng hào có ma, Tinh thần thể dục hay Báo hiếu: trả nghĩa cha, trả nghĩa mẹ đều phơi bày sự vô cảm của bộ máy quan trường trước nỗi thống khổ của người nghèo.

Nguyễn Công Hoan và nghệ thuật truyện ngắn trào phúng
Nguyễn Công Hoan và nghệ thuật truyện ngắn trào phúng

Ngô Tất Tố và bức tranh nông thôn Việt Nam trước cách mạng

Ngô Tất Tố (1893 – 1954) là một học giả Hán học uyên bác, nhà báo sắc sảo và là nhà văn am hiểu sâu sắc nhất về lũy tre xanh Việt Nam. Ông để lại dấu ấn đậm nét qua các tiểu thuyết phóng sự và tiểu thuyết hiện thực viết về hủ tục cùng chế độ cai trị ở nông thôn.

Nếu phóng sự Việc làng (1940) và tiểu thuyết Lều chõng (1939) phê phán những tập tục đình đám cổ hủ cùng chế độ khoa cử phong kiến lỗi thời thì tiểu thuyết Tắt đèn (1937) là bản cáo trạng đanh thép nhất về nạn sưu thuế. Qua hình tượng người phụ nữ nông dân chị Dậu vừa dịu dàng, thương chồng thương con vừa tiềm tàng sức phản kháng mãnh liệt(“Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!”), Ngô Tất Tố đã dự báo sức mạnh vùng lên của quần chúng nông dân.

Ngô Tất Tố và bức tranh nông thôn Việt Nam trước cách mạng
Ngô Tất Tố và bức tranh nông thôn Việt Nam trước cách mạng

Vũ Trọng Phụng và danh xưng ông vua phóng sự đất Bắc

Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939) dù qua đời ở tuổi 27 vì bệnh lao phổi nhưng đã kịp để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ gồm hơn 30 truyện ngắn, 9 tiểu thuyết và 9 tập phóng sự dài. Ông được giới văn chương tôn vinh là “ông vua phóng sự đất Bắc” nhờ lối viết điều tra dấn thân, không ngại thâm nhập vào những góc khuất tối tăm nhất của Hà Nội những năm 1930.

Ba tập phóng sự Cạm bẫy người (1933), Kỹ nghệ lấy Tây (1934), Cơm thầy cơm cô (1936) cùng tiểu thuyết Số đỏ (1936) đã đưa nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng lên đỉnh cao chưa từng có. Bức tranh xã hội tư sản thành thị chạy theo phong trào “Âu hóa”, “vui vẻ trẻ trung” hiện lên dưới ngòi bút của ông như một đám rước lố lăng mà kẻ dẫn đầu lại là Xuân Tóc Đỏ — một gã lưu manh vô học nhặt bóng quần vợt.

Vũ Trọng Phụng và danh xưng ông vua phóng sự đất Bắc
Vũ Trọng Phụng và danh xưng ông vua phóng sự đất Bắc

Nam Cao và chủ nghĩa hiện thực tâm lý sâu sắc

Nam Cao (1915 – 1951) xuất hiện ở chặng cuối của trào lưu (1941 – 1945) nhưng đã đưa văn học hiện thực phê phán lên một tầm cao mới: chủ nghĩa hiện thực tâm lý. Ông không chạy theo những sự kiện ly kỳ bên ngoài mà hướng ngòi bút vào thế giới nội tâm phức tạp của con người trước miếng cơm manh áo.

Sáng tác của Nam Cao chia làm hai mảng đề tài rõ rệt là người nông dân nghèo (Chí Phèo, Lão Hạc, Một bữa no, Tư cách mõ) và người trí thức tiểu tư sản nghèo (Sống mòn, Đời thừa, Trăng sáng). Thông qua tấn bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ hay giáo Thứ — những người trí thức có hoài bão lớn nhưng bị gánh nặng cơm áo ghì sát đất, Nam Cao đã phát biểu những tuyên ngôn nghệ thuật bất hủ về sứ mệnh vị nhân sinh của văn chương.

Nam Cao và chủ nghĩa hiện thực tâm lý sâu sắc
Nam Cao và chủ nghĩa hiện thực tâm lý sâu sắc

Bảng tổng hợp các tác phẩm văn học hiện thực phê phán tiêu biểu

Danh sách các tác phẩm tiêu biểu nhất của trào lưu văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930-1945 được tổng hợp trong bảng dưới đây theo thứ tự thời gian xuất bản và giá trị tư tưởng. Bảng dữ liệu giúp bạn đối chiếu nhanh tên tác giả, thể loại và nội dung phản ánh cốt lõi của từng kiệt tác.

Tên tác phẩmTác giảNăm xuất bảnThể loạiNội dung phản ánh chính
Tôi kéo xeTam Lang1932Phóng sựNỗi thống khổ thể xác và tinh thần của những người phu kéo xe tay tại Hà Nội
Kỹ nghệ lấy TâyVũ Trọng Phụng1934Phóng sựNghề lấy lính lê dương Pháp làm kế sinh nhai tại các vùng đồn trú quân sự
Kép Tư BềnNguyễn Công Hoan1935Truyện ngắnBi kịch người nghệ sĩ phải lên sân khấu mua vui cho khán giả khi cha ruột đang hấp hối
Số đỏVũ Trọng Phụng1936Tiểu thuyếtChâm biếm xã hội tư sản thành thị chạy theo phong trào Âu hóa giả dối, lố bịch
Giông tốVũ Trọng Phụng1936Tiểu thuyếtVạch trần sự tàn ác, đồi trụy của giới tư sản kiêm địa chủ qua nhân vật Nghị Hách
Tắt đènNgô Tất Tố1937Tiểu thuyếtCảnh thúc sưu thuế tàn bạo ở nông thôn và vẻ đẹp phản kháng của người phụ nữ nông dân
Bước đường cùngNguyễn Công Hoan1938Tiểu thuyếtQuá trình người nông dân bị địa chủ dùng thủ đoạn cho vay nặng lãi cướp đoạt ruộng đất
Bỉ vỏNguyên Hồng1938Tiểu thuyếtSố phận người phụ nữ nông thôn bị xã hội đẩy vào con đường lưu manh nơi thành thị
Chí PhèoNam Cao1941Truyện ngắnBi kịch người nông dân lương thiện bị tha hóa nhân tính và bị cự tuyệt quyền làm người
Lão HạcNam Cao1943Truyện ngắnPhẩm chất trong sạch, tình phụ tử thiêng liêng của người nông dân nghèo chọn cái chết để giữ đất cho con
Sống mònNam Cao1944Tiểu thuyếtBi kịch “chết khi đang sống” của người trí thức nghèo bị cơm áo ghì sát đất

Vị trí lịch sử và sự chuyển mình của dòng văn học hiện thực sau năm 1945

Văn học hiện thực phê phán 1930-1945 đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử khi ghi lại biên niên sử chân thực về xã hội Việt Nam đêm trước Cách mạng tháng Tám và thúc đẩy quá trình hiện đại hóa văn xuôi tiếng Việt chỉ trong hơn một thập kỷ. Trào lưu này để lại những bài học quý giá về nghệ thuật quan sát đời sống, phân tích tâm lý nhân vật và sử dụng ngôn ngữ dân tộc điêu luyện.

Tuy nhiên, do giới hạn của thế giới quan đương thời, các tác phẩm hiện thực phê phán mới dừng lại ở việc vạch trần cái ác và cất lên tiếng kêu thương mà chưa chỉ ra được con đường giải phóng triệt để cho người lao động (cái kết của Tắt đèn vẫn là bầu trời tối đen như mực, còn Chí Phèo phải kết thúc cuộc đời trong vũng máu). Phải đến khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, những nhà văn hiện thực như Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng mới tìm thấy ánh sáng lý tưởng mới, trực tiếp tham gia chiến trường và góp sức tạo dựng nền thơ ca kháng chiến chống Pháp 1945-1954 cùng dòng văn xuôi cách mạng.

Từ đây, chủ nghĩa hiện thực phê phán chuyển mình sang chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Những con người từng bị vùi dập dưới đáy xã hội cũ đã bước lên làm chủ đất nước, mở ra giai đoạn văn học mới mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn 1945-1975 hào hùng của dân tộc.

Lời kết

Trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930-1945 mãi là một di sản tinh thần vô giá, khẳng định sức mạnh của ngòi bút chân chính luôn đứng về phía con người và công lý. Để tìm đọc thêm các bài phân tích chuyên sâu về tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam qua các thời kỳ, bạn hãy truy cập ngay website Nhà Văn Hà Nội và theo dõi chuyên mục Kiến thức văn học được cập nhật mới mỗi ngày.