Ngày đăng: 09:12 06/09/2017

Bản lĩnh và trách nhiệm Nhà văn Hà Nội

Tính từ năm Canh Tuất (1010) đến nay, miền đất kinh kỳ Thăng Long – Hà Nội đã trải qua dư nghìn năm văn học. Trên thực tế, vùng văn học Thăng Long – Hà Nội bao quát một phạm vi rộng lớn, gồm cả ngữ văn dân gian và dòng văn học viết (văn xuôi, thơ ca, dân ca, hát nói, tuồng, chèo…). Nói đến vùng văn học Thăng Long – Hà Nội trước hết cần điểm danh đội ngũ tác giả, những chủ nhân ông làm nên diện mạo nghìn năm văn học. Ở đây có thể chia thành ba thời đại gắn với ba loại hình, kiểu loại tác giả chủ yếu: văn học trung đại từ khoảng thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX (có tác gia hoàng đế, quan lại, tăng sĩ, nho sĩ…); văn học giao thời cận – hiện đại nửa đầu thế kỷ XX (xuất hiện kiểu nhà văn tự do, công chức, yêu nước và cách mạng…); văn học hiện đại từ giữa thế kỷ XX đến nay (chủ yếu là nhà văn cán bộ, viết văn dưới ánh sáng đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng…). Trong số các nhà văn này có người sinh ra và trọn đời gắn bó với Thăng Long – Hà Nội (Lý Thường Kiệt, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Tản Đà, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài…).

Nhiều người từ bốn phương đất nước lại đã “Thăng Long hóa” mà lưu danh tên tuổi (Khuông Việt Ngô Chân Lưu, Nguyễn Vạn Hạnh, Nguyễn Phi Khanh, Thân Nhân Trung, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu, Huy Cận, Tố Hữu…). Nhiều người khác từ chốn kinh kỳ lại tỏa ra khắp trong Nam ngoài Bắc và sáng tác cả ở nước ngoài (Hồ Nguyên Trừng, Nguyễn Thượng Hiền, Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Hiến Lê, Vũ Bằng, Đinh Hùng…). Một số khác chỉ một lần ngang qua Thăng Long – Hà Nội mà có được những trang văn để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc (Lê Hữu Trác, Bà Huyện Thanh Quan, Trương Vĩnh Ký, Đông Hồ, Mộng Tuyết, Huỳnh Văn Nghệ, Lê Anh Xuân…). Nói như vậy để thấy rõ hơn vườn hoa văn học Thăng Long – Hà Nội nhiều hương sắc, có sự giao thoa, đan xen của nhiều kiểu loại tác giả, tác phẩm.

Trên tiến trình nghìn năm văn học cần thấy rằng xu thế hội nhập, hội tụ, “Thăng Long hóa” là con đường chủ đạo để hình thành cả một đội ngũ tác giả xuất sắc và làm nên truyền thống văn chương Hà thành. Có thể nói đây là con đường và xu thế tất yếu với mọi đất nước, mọi nền văn học. Rõ ràng miền đất kinh kỳ là trung tâm văn hóa lớn nhất của cả nước, có khả năng thu hút, biến cải, nâng cao mọi tài năng văn chương. Chính Hà thành đã là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa bốn phương, kể cả giao lưu và tiếp nhận văn hóa nước ngoài, để rồi chuyển hóa thành căn rễ truyền thống văn học Thăng Long – Hà Nội. Đó là cả một quá trình vừa có xây dựng, phát huy truyền thống, vừa tiếp tục tỏa sáng, vẫy gọi, phát triển.

Bước sang thế kỷ XX, Hà Nội trước sau vẫn xứng đáng đóng vai trò trung tâm văn học lớn nhất của cả nước với sự ra đời những tờ báo giữ vị trí dẫn đường như Đông Dương tạp chí (1913-1916), Nam phong tạp chí (1917-1934), Phong hóa, Ngày nay (1932-1940), Tiểu thuyết thứ bảy (1934-1942), Tri tân, Thanh nghị (1941-1945)… Đặc biệt sự xuất hiện tổ chức Tự lực văn đoàn đã làm nên cả một thời đại văn học, thúc đẩy phong trào Thơ mới và bộ phận văn xuôi hướng đến hội nhập với nền văn học hiện đại thế giới. Trong bối cảnh chung, các tác giả Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài… đã viết nên những tác phẩm xuất sắc về đề tài Hà Nội và đứng vào đội ngũ những tác gia hàng đầu của nền văn học hiện đại. Từ Cách mạng tháng Tám đến nay, văn học thủ đô dưới chế độ mới tiếp tục phát huy được bản lĩnh và cốt cách nhà văn, người trí thức yêu nước.

Bên cạnh dòng chảy trung tâm là những tác phẩm phản ánh trực diện cuộc sống và con người Thăng Long – Hà Nội còn có chủ điểm bộc lộ niềm thương nỗi nhớ Hà thành. Tiếp nhận dòng cảm hứng nghệ thuật Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long (Huỳnh Văn Nghệ), chúng ta có thể khai thác từ nhiều góc độ, nhiều phương diện thể loại, thể tài khác nhau. Khác với thơ ca, đường biên của dòng văn xuôi chuyển tải cảm hứng thương nhớ đôi khi không có sự phân biệt thật rõ ràng so với những tác phẩm trực diện miêu tả, phản ánh chính con người và cuộc sống sôi động chốn kinh kỳ.

Nói khác đi, bên cạnh các thể hồi ký, du ký, ghi chép, tùy bút, tản văn vốn nằm ở trung tâm dòng chảy cảm hứng thương nhớ Thăng Long – Hà Nội thì nhiều trang văn lại chủ yếu nhấn mạnh các sự kiện và đằng sau đó mới bộc lộ sắc thái tình cảm. Điều này có lý bởi xét về bản chất, sự phát biểu cảm tưởng thương nhớ nào cũng phải căn cứ trên thực tế cuộc sống mà người viết đã trải qua; và ngược lại, sự mô tả hiện thực nào cũng đều gửi gắm, chất chứa trong đó và đằng sau đó sắc thái tình cảm yêu mến Thăng Long – Hà Nội. Đó là những trang văn trải rộng từ nỗi nhớ một cái tết xưa, một sớm Hồ Gươm, Hồ Tây, một đêm trăng thu, một cành đào Nhật Tân trong sáng tác thời Đổi mới của Tô Hoài, Nguyễn Khải, Chu Lai, Băng Sơn, Nguyễn Ngọc Tiến, Nguyễn Việt Hà,… Hà Nội của một thuở ấu thơ, một thuở kem que, ô mai học trò và những làn mưa xuân phơ phất, những sớm thu vàng óng ả heo may, những chiều đông rộng dài se sắt và cả những gian khó thường nhật đã trở thành kỷ niệm. Tất cả rồi trở nên sống động trong lòng người xa Hà Nội, những anh chị em du học, bà con Việt kiều ở khắp mọi chân trời góc bể…

Người Hà Nội và những người xa Hà Nội, những người từng một lần ngang qua Hà Nội và cả người bốn phương đều có chung tấm lòng nhớ thương Thăng Long – Hà Nội. Đây là miền đất của ngàn năm, nơi hội tụ và thăng hoa mọi giá trị con người, tinh kết tài hoa, trí tuệ bốn phương. Chính vì thế mà Thăng Long – Hà Nội đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho các thế hệ nhà văn viết nên các tác phẩm thơ văn xuất sắc. Một thời rồi sẽ qua đi. Trăm năm rồi sẽ qua đi. Ngàn năm rồi sẽ qua đi. Trước rộng dài lịch sử, những trang văn Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long hẳn sẽ là hành trang tinh thần vô giá gửi lại mai sau. Mãi mãi muôn năm sau vẫn là Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long

Trong vận hội mới của đất nước và trên tư cách hội viên, tôi nghĩ nhiều đến bản lĩnh và trách nhiệm của nhà văn thủ đô Hà Nội. Trước hết, trong bối cảnh thời đại thông tin phát triển như vũ bão hiện nay, nhà văn Hà Nội chí ít cần không ngừng học hỏi, cập nhật được các nguồn thông tin mới mẻ nhất, chuẩn mực nhất và định hướng theo sát các giá trị nhân văn và tiến bộ xã hội. Nhà văn Hà Nội cần bồi dưỡng bản lĩnh vững vàng trong việc thẳng thắn nhìn ra các hiện tượng Hà Nội “đẹp và chưa đẹp”.

Tôi nghĩ rằng, trên tinh thần đoàn kết, tình đồng chí giữa những người cùng chung đội ngũ, chúng ta cần nêu cao tinh thần dân chủ, biết lắng nghe những ý kiến khác nhau, lấy hiệu quả sáng tạo làm thước đo cho mọi giá trị nghệ thuật, tránh hiện tượng độc quyền chân lý, duy ý chí và áp đặt khiên cưỡng. Trong nhiều năm qua, các nhà văn Hà Nội cơ bản phát triển đúng quĩ đạo, hạn chế đến tối đa lối sáng tác và phê bình minh họa, cơ hội, đánh đấm, qui chụp một chiều. Trong mối quan hệ cơ hữu XÂY và CHỐNG, tôi cho rằng cần phát huy tinh thần sáng tạo, lấy XÂY là chính. Tôi xác định đây là bản lĩnh, trách nhiệm cao cả của mỗi nhà văn và cũng là dòng chủ lưu của của tổ chức Hội Nhà văn của thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến.

Hà Nội, ngày 6/8/2017

Nhà văn Nguyễn Hữu Sơn

Tags
Chú ý: Mọi lời bình sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng tải. Những lời bình chứa lời lẽ tục tĩu, khiếm nhã, liên quan tới vấn đề chính trị, tôn giáo sẽ tự động bị xoá bỏ.
h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai h�i c?t 423 minh khai